Đang tải... Vui lòng chờ...

Danh mục sản phẩm
NHẬN TIN KHUYẾN MẠI
Tin mới
Xây dựng chuỗi rau - thịt an toàn cho Hà Nội

Trước vấn đề cấp bách liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm, chiều 23/10, Bộ NN-PTNT và UBND TP Hà Nội cho biết sẽ thành lập Ban Điều phối thực hiện 2 đề án xây dựng chuỗi rau và thịt an toàn cho Thủ đô giai đoạn 2015-2020.

Kế hoạch giết mổ gia súc gia cầm 2014 của TP Hà Nội

Việc xây dựng cơ sở giết mổ đảm bảo yêu cầu về vệ sinh thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường còn có những hạn chế.

Sức khỏe là gì?

Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi chúng ta!

Tiêu chuẩn ViêtGAP

VietGAP là chữ viết tắt của Vietnamese Good Agricultural Practices, nghĩa là Thực hành sản xuất nông nghiệp tôt. Đó là việc áp dụng các biện pháp sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm sạch và an toàn, đặc biệt là các sản phẩm về rau quả tươi.

Quy hoạch vùng Sản Vật "thực phẩm gốc thiên nhiên"xung quanh chân Núi Ba Vì

Nhằm xây dựng một cách bài bản một mô hình chuẩn về một vùng sản xuất và cung cấp cho cư dân Thủ đô Hà Nội các sản phẩm nông nghiệp xanh sạch mang tính thiên nhiên gắn liền với việc áp dụng các thành tựu của nền nông nghiệp công nghệ cao và mô hình quản lý hiện đại.

Tỉ giá
Vàng
ĐVT: tr.đồng/lượng
 
Mua vào
Bán ra
SJC
Không có
Không có
(Nguồn www.sjc.com.vn)
Ngoại tệ
 
Mua vào
Bán ra
EUR
26084.18
26397.48
GBP
33110.2
33642.88
JPY
176.71
180.09
USD
21360
21405
(Nguồn vietcombank.com.vn)
Lượt truy cập
Liên kết

Các thực phẩm giàu chất đạm

 

Chất đạm có trong cả động vật và thực vật, nhưng ưu điểm của đạm động vật là có đủ 8 axit amin cần thiết, tỷ lệ cân đối còn đạm thực vật thường thiếu axit amin cần thiết và tỷ lệ không cân đối. Vậy nên dùng đạm động vật để hỗ trợ cho đạm thực vật hoặc phối hợp những đạm thực vật với nhau.

 

Thực phẩm từ động vật

Thịt

Thịt là nguồn protein quý, có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trong thịt khoảng 15 -20g%. Thành phần acid amin trong thịt cân đối đặc biệt có nhiều lysine là yếu tố hạn chế ở lương thực. Ngoài protein trong thịt còn có những chất chiết xuất tan trong nước có mùi vị đặc trưng khi chế biến món ăn.

Lipid trong thịt dao động nhiều liên quan tới loại súc vật, mức độ béo và vị trí miếng thịt. Ví dụ ở thịt lơn béo mỡ có thể tới 30%, ở thịt bê gầy mỡ không quá 2%. Mỡ động vật có nhiều acid béo no, các acid béo chưa no nhiều mạch kép khoảng 2-7%. Lượng acid béo chưa no ở con vật gầy còm giảm và lượng acid béo no tăng lên rõ rệt. Do có nhiều acid béo no và cholesterol nên ăn nhiều thịt có ảnh hưởng tới nhiều bệnh mãn tính có liên quan tới dinh dưỡng.

Thịt gần như không có glucid, chủ yếu ở dưới dạng glycogen có một lượng rất nhỏ chủ yếu ơ gan. Thịt con vật gầy mệt mỏi ít glycogen nên khi giết thịt ít acid lactic và chóng hỏng.

Thịt có nhiều photppho, kali, sắt nhưng ít canxi. Là nguồn các vitamin B tốt nhưng nghèo vitamin C.

Hàm lượng chất đạm trong các loại thịt như thịt lợn, gà, vịt, bò, chim...đều xấp xỉ như nhau nhưng còn tuỳ theo thịt nạc hay mỡ mà hàm lượng chất đạm cao hay thấp.

Chú ý khi chế biến thịt:

- Thịt nướng, rang và nhất là ướp đường trước khi nướng, rang làm tǎng mùi vị, sức hấp dẫn nhưng làm giảm giá trị sinh học của thức ăn. Không nên cho trẻ nhỏ ăn thịt nướng, rang khô vì giảm chất dinh dưỡng và khó hấp thu.

- Thịt bị ôi thiu, hỏng sẽ tiết ra chất độc gây dị ứng hoặc ngộ độc. Dù nấu nướng khéo, che đậy được mùi vị hư hỏng nhưng chất độc vẫn còn.

- Lưu ý thịt lợn có khả năng bị nhiễm giun xoắn mà không bị phát hiện, thịt ếch nhái hay bị sán nên phải ăn chín. Riêng cóc trong da và trứng có chứa chất độc làm chết người nên khi ǎn cần loại bỏ triệt để da và phủ tạng.

- Không dùng thớt thái chung thịt chín và thịt sống.

- Nước xương, nước thịt hầm, luộc có chứa nhiều nitơ nhưng chất đạm và canxi rất ít. Nấu ǎn cho trẻ cần cho ǎn cả thịt (phần cái) chứ không phải chỉ có nước.

Cá và các chế phẩm của cá

Cá không thua kém thịt về giá trị dinh dưỡng, lượng protein trong cá dao động từ 16 – 22%, thành phần acid amin cân đối. Lượng tổ chức liên kết ít hơn ở thịt, phân phối đều và hầu như không có elastin nên cá dễ tiêu hóa.

Lượng chất béo trong cá dao động từ 1 – 10% tùy theo loài,tuổi, mùa và chu kỳ sinh sản. Tuy vây lượng lipid của cá có nhiều acid béo chưa no ( khoảng 60 -65%) nên rất có giá trị, đặc biệt là các acid béo chưa no nhóm n-3 có vai trò với sức khỏe tim mạnh. Lipid của cá dễ tiêu nhưng chóng ôi.

Lượng glucid trong cá không đáng kể, dưới 1% và ở dạng glycogen. Cá là nguồn vitamin và chất khoáng quí. Cá nhiều photpho, it canxi nhưng cân bằng toàn kiềm tốt hơn thịt. Nên ăn cá nhỏ cả xương để có nhiều canxi. Cá có ít sắt hơn thịt, cá biển có nhiều iot. Đặc biệt gan một số loại cá biển như cá thu, cá hồi có nhiều vitamin A, D, B12 nhưng cá dễ bị hỏng hơn thịt.

- Cá khô có hàm lượng chất đạm cao hơn cá tươi nhưng mặn và dễ bị ẩm, mốc. Chú ý cá khô mốc có thể gây nên ngộ độc.

Tôm, lươn, cua và nhuyễn thể

- Tôm, lươn, cua có hàm lượng và chất lượng đạm không kém gì so với thịt, cá, còn chất lượng đạm của nhuyễn thể ( ốc, trai, sò...) thì không bằng và tỷ lệ các axit amin không cân đối. Tuy vậy nhuyễn thể lại có nhiều chất khoáng hơn, nhất là canxi, đồng(cu) và selen(se).

- Khi nhuyễn thể bị chết sẽ dễ bị phân huỷ, sinh ra độc tố nên khi ǎn ốc, trai, sò...phải chú ý loại bỏ con chết, ngâm con sống sạch trước khi nấu. Nhuyễn thể còn là vật trung gian truyền các loại bệnh như thương hàn, tiêu chảy nên nhuyễn thể cần phải được ăn chín.

- Cua đồng, con dạm giã nấu canh, nấu bột, khi lọc có mất nhiều chất đạm nhưng là chất đạm hòa tan, dễ hấp thu và còn có thêm nhiều canxi.

Trứng

Trứng là loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng đặc biệt cao. Protein của trứng từ 12 – 14g% có đủ các acid amin cần thiết thích hơp với nhu cầu cơ thể. Lượng lipid dao động từ 11 – 16g%, tập trung chủ yếu ở lòng đỏ  dưới dạng glyxerit và photpholipid có vai trò sinh học quan trọng.

Trứng gà là nguồn lexittin quí, hàm lượng ở lòng đỏ khoản 8,6g%. Lexitin thường có ít ở các loại thực phẩm khác. Lòng đỏ trứng có 1,8g% cholesterol. Khoảng 84% cholesterol trong lòng đỏ ở dạng tự do và chỉ 16% ở dạng este. Ngoài ra lòng đỏ trứng có nhiều vitamin nhóm B, vitamin A, D và carotene có hàm lượng thay đổi theo chế độ ăn của gia cầm. Lòng đỏ trứng cũng có nhiều các loại chất khoáng và vi lượng như: săt, photpho,canxi…

Các loại trứng gà, vịt, trứng cua cáy, cá là nguồn cung cấp chất đạm tốt nhất vì có đầy đủ các axit min cần thiết với tỷ lệ cân đối. Trứng có thể nhiễm ký sinh trùng hoặc vi khuẩn gây bệnh. Không nên ǎn trứng sống, trứng hỏng vì có thể bị ngộ độc.

Muốn luộc trứng lòng đào thì cho thẳng trứng vào nước nóng già rồi đun sôi vài phút, lòng trắng sẽ chín và lòng đỏ còn sống, các vitamin không bị nhiệt phá huỷ.

Trứng vịt lộn chứa nhiều chất đạm và nội tiết tố kích thích chuyển hoá trong cơ thể người ǎn.

Sữa

Sữa là loại thực phẩm rất có già trị dinh dưỡng: Một mặt đó là nguồn protein có giá trị sinh học cao, mặt khác đó là nguồn canxi quý cùng với vitamin A, D, B2. Sữa mẹ có đầy đủ chất đạm, chất béo, chất đường, vitamin và muối khoáng với tỷ lệ thích hợp, dễ hấp thu vì vậy sữa mẹ là thức ǎn tốt nhất cho trẻ.

Hiện nay ngoài thị trường có bán nhiều loại sữa bò,  sữa dê, sữa cừu, sữa đậu nành có nhiều chất bổ dưỡng cho trẻ em, người già, người ốm. Lượng protein trong sữa bò tươi là 3,9g%,sữa dê tươi là 1,5g%, sữa trâu 5,2g%. Lượng lipid trong sữa bò là 4,4g%, sữa dê là 4,1g%. Casein, lactoalbumin và lacto globulin là các protein chính. Khi lượng casein chiếm 75% tổng số protein gọi là sữa Casein ( sữa bò, sữa dê, sữa trâu, sữa cừu..) khi thấp hơn gọi là sữa albumin ( sữa mẹ ).

Chất béo trong sữa vào khoảng 3,2 – 4,5%, chất béo của sữa hoặc bơ có trên 60% acid béo no, 33% acid béo chưa no nhiêu nối kép.

Phần lớn glucid trong sữa ở dạng lactoza ( lactoza kém ngọt hơn sacaroza nhiều). Sữa mẹ có nhiều lactoza (7g%) hơn sữa bò (2-5%). Khi vào đường ruột lactoza tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển một số vi khuẩn làm chua sữa và hạn chế vị khuẩn gây thối. Các lipid trong sữa ở dưới dạng nhũ tương phần lớn là các glyxerit với một ít lexitin.

Sữa là một nguồn caxi quí: 100g sữa cho 120mg canxi dễ hấp thụ nhờ có lactoza ở ruột. Sữa tương đối nghèo sắt, vitamin C nhưng lại có một lượng riboflavin cao (0,19mg%)  các vitamin A, D, ngoài ra còn nhiều enzyme. Qúa trình thanh trùng sữa tiêu diệt các vị khuẩn gây bệnh cũng có thể làm giảm một ít giá trị dinh dưỡng, đặc biệt là lysine.

Sữa đặc là sữa đã làm bay hơi một phần nước và cho thêm đường.Đối với trẻ nhỏ không nên dung sữa đặc vì có quá nhiều đường.

Sữa bột là loại sữa đã làm bay hơi nước sau đó sấy khô thành các hạt nhỏ.Và tùy theo định hướng sản phẩm mà các nhà sản xuất, chiết tách bớt hoặc bổ xung thêm các dưỡng chất thiết yếu, làm cho sữa có nhiều giá trị dinh dưỡng khác nhau. Như bổ xung canxi, omega 3 (DHA, EPA), omega 6….

Từ sữa người ta chế biến bơ, phomat, sữa chua.

Phomat là loại thức ăn có giá trị sinh học cao. Lượng protein  và canxi ở phomat cao hơn ở sữa do đó có thể coi như là sữa cô đặc tự nhiên. Ngươi ta chế biến phomat bằng sữa toàn phần hay sữa đã lấy chất béo bằng cách làm chua bởi Streptococus lactic hay men.  Loại phomat làm từ sữa toàn phần có 25g%  protein, 30g% lipid và 760mg% canxi. Gía trị dinh dưỡng của phomat kém đi vì trong quá trình chế biến người ta đã cho thêm nhiều muối và mất một phần các vitamin  nhóm B.

Sữa chua cũng là nguồn thưc ăn quý, trong 100g sữa chua có 3,3% protein, 3,7% lipid đặc biệt 120mg% canxi. Sữa chua ngoài tác dụng làm tăng cảm vị ngon khi ăn còn có tác dụng kích thích tiêu hóa và làm đẹp.

Sữa là môi trường rất tốt cho vi khuẩn phát triển vì vậy cần phải bảo quản cẩn thận nhất là sau khi đã pha thành sữa nước. Khi sữa bị hỏng sẽ có mầu vàng nâu từ nhạt tới sẫm.

Thực phẩm từ thực vật

Đậu đỗ

Đậu đỗ và các hạt có dầu là nhóm thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Trước hết đậu đỗ là một nguồn protein quý có thể so sách với protein động vật mà năng suất lại cao hơn nhiều lần. Chúng còn là một nguồn chất béo có giá trị sinh học cao và nhiều vitamin nhóm B.

Đậu tương có giá trị dinh dưỡng rất cao, hàm lượng protein khoảng 35%,  thành phần acid amin khá cân đối (hơi thiếu methionin). Do có nhiều lysine nên protein đậu tương phối hợp rất tốt với protein của lương thực. Hàm lượng lipid khá cao 18,4g%, trong đó 13% là acid béo no, 30% là các acid béo chưa no có 1 nối kép và từ 55 – 60% là acid béo chưa no có nhiều nối kép ( chủ yếu dưới dạng acid béo chưa no cần thiết). Đạm đậu tương giàu thiamin (0,54mg%), lượng sắt, riboflavin và niaxin đều khá cao. Ngoài giá trị dinh dưỡng cao, gần đây người ta nghiên cứu  nhiều đến các đặc tính khác của đậu tương, coi đậu tương là thực phẩm chức năng có giá trị. Do lipid đậu tương có chưa nhiều các acid không no có tác dụng phòng chống ung thư và giảm cholesterol máu.

Đậu đỗ cần ǎn chín, nên ngâm nước trước khi rang. Các sản phẩm từ đậu tương được dùng phổ biến như sữa đậu nành, đậu phụ, bột đậu nành hoặc dùng quá trình lên men để chế biến thành các sản phẩm như tương, chao, sữa chua đậu nành...để làm tǎng giá trị dinh dưỡng và tỷ lệ hấp thu của thức ǎn. Nên sử dụng nhiều sản phẩm từ đậu nành vì là loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng và có tác dụng tốt cho sức khoẻ.

Các hạt đậu đỗ cùng có đặc điểm chung là có nhiều protein ( từ 22 – 25g%), nhưng khác với đậu tương là lượng lipid thấp ( từ 1,5 – 2,5 g%). Chất lượng protein kép hơn thưc ăn động vật và đậu tương, tùy theo chủng loại nhưng nói chung là nghèo các acid amin chứa lưu huỳnh (methionin). Ngược lai chúng giàu lysine nên là thức ăn phối hợp tốt với lương thực. Các loại đậu, đặc biệt là đậu xanh là một nguồn vitamin B1 quí (0,27mg%). Các hạt họ đậu chứa nhóm các chất phản dinh dưỡng và độc như chất ức chế men trypsin hoặc hemagglutinin mà quá trình đun chin và chế biến đã phá hủy chúng. Qúa trình nảy mầm ( giá đỗ) và nên mem cải thiện giá trị dinh dưỡng, tăng lượng vitamin C, vitamin nhóm B và vitamin E.

Vừng, lạc

Lạc, vừng là nguồn thực phẩm chứa nhiều lipid;( 44g%  lipid ở lạc, 46mg% lipid ơ vừng)  gấp đôi đậu tương. Dầu lạc, vừng  có nhiều glyxerit. So với dầu thực vật khác nó có it photphatit. Glyxerit của dầu lạc chứa 3 acid béo chính: oleic, linoleic chiếm 80% và acid panmitic (10%). Lạc có 27% protein, vừng có 20% protein, chất lượng protein của lạc, vừng tương đối kém, nghèo methionin  ơ lạc ( vừng tương đối giàu methionin) và lysine, izolysin và treonin.

Lạc, vừng có nhiều vitamin nhóm B, đặc biệt vừng có hàm lượng canxi rất cao (1200mg%).

Khi rang lạc không làm ảnh hưởng tới chất lượng chất đạm.

Cần bảo quản tốt lạc để tránh mốc, loại mốc gây độc chính là Aspergillus flavus sinh độc tố aflatoxin là một tác nhân gây ung thư. Khi ǎn lạc cần loại bỏ các hạt mốc vì trong hạt lạc mốc có chứa độc tố vi nấm gây ung thư gan. Mỗi gia đình nên có một lọ muối vừng lạc để ǎn thường xuyên.

( foodbank.com.vn)

 

 

 

In văn bản

Giỏ hàng
Chưa có sản phẩm nào trong giỏ hàng của bạn!
Hỗ trợ Online
Sản phẩm bán chạy